CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS - BỘ Y TẾ CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS - BỘ Y TẾ
CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS - BỘ Y TẾ

Trang chủ > Tin tức > Tin tức - sự kiện > Các chất ma túy thường dùng trong hoạt động Chemsex

Thứ Tư, 08/12/2021 | 16:53:38 GMT+7

Các chất ma túy thường dùng trong hoạt động Chemsex

15/10/2021 | 596 lượt xem | Kiều Trang

Sử dụng chất khi quan hệ tình dục (chemsex) là cụm từ chỉ việc sử dụng có chủ ý các chất hóa học thường là các chất ma túy kích thích trong hoạt động tình dục, chủ yếu ở nhóm nam có quan hệ tình dục đồng giới. Các chất sử dụng trong hoạt động chemsex có nhiều loại, tuy nhiên có thể phân chia thành 2 loại là các chất ma túy và các chất không phải ma túy. Sau đây là một số loại ma túy thường được sử dụng trong hoạt động chemsex.

Amphetamine
Amphetamine là chất có tính chất kích thích hệ thần kinh trung ương. Đây là một loại thuốc được kê toa ở nhiều quốc gia. Trong y khoa, Amphetamine được sử dụng trong điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý, chứng ngủ rũ, béo phì và trước đây được dùng để điều trị nghẹt mũi và trầm cảm, tăng cường thành tích thể thao và nhận thức. 
Amphetamine hiện nay được sử dụng bất hợp pháp cho mục đích giải trí và dùng như một chất kích thích tình dục và gia tăng khoái cảm. Amphetamine có thể sử dụng bằng đường uống, hít và đôi khi được sử dụng bằng đường tiêm chích.
 
Amphetamine dạng thuốc
Ở liều điều trị, Amphetamine gây ra các hiệu ứng cảm xúc và nhận thức như sảng khoái, thay đổi ham muốn tình dục, tăng sự tỉnh táo và kiểm soát nhận thức được cải thiện. Nó gây ra các hiệu ứng vật lý như cải thiện thời gian phản ứng, chống mệt mỏi và tăng sức mạnh cơ bắp. Liều lớn hơn của Amphetamine có thể làm suy giảm chức năng nhận thức và gây tiêu cơ vân. Nghiện là một nguy cơ nghiêm trọng khi sử dụng Amphetamine giải trí ở liều cao, kéo dài, thường không xảy ra khi sử dụng trong y khoa với liều điều trị. Liều rất cao có thể dẫn đến rối loạn tâm thần (ví dụ: ảo tưởng và hoang tưởng) hiếm khi xảy ra ở liều điều trị. Liều giải trí thường lớn hơn nhiều so với liều điều trị và có nguy cơ tác dụng phụ cũng nghiêm trọng hơn.
Methamphetamine
Methamphetamine (thường gọi ma túy đá hay Meth) có cấu trúc và có nhiều đặc tính tương tự như Amphetamine. Meth là một chất kích thích hệ thần kinh trung ương mạnh, trong y khoa mặc dù có thể được chỉ định điều trị cho chứng rối loạn tăng động giảm chú ý và béo phì nhưng rất ít khi được dùng do nguy hiểm và có hiệu quả kém.

Methamphetamine  
Ở liều thấp đến trung bình, Methamphetamine có thể cải thiện tâm trạng, tăng tỉnh táo, tập trung và năng lượng ở những người mệt mỏi; giảm cảm giác thèm ăn giúp giảm cân. Ở liều rất cao, nó có thể gây ra rối loạn tâm thần, tiêu cơ vân, co giật và xuất huyết não. Sử dụng liều cao lâu dài có thể làm biến đổi tâm trạng một cách không lường trước được, loạn thần (như hoang tưởng, ảo giác, mê sảng và ảo tưởng) và hành vi bạo lực. Trong sử dụng bất hợp pháp cho mục đích giải trí, Methamphetamine làm tăng năng lượng, cải thiện tâm trạng và tăng ham muốn tình dục giúp một người có thể hoạt động tình dục liên tục trong vài ngày.
Methamphetamine có tính lệ thuộc cao, tăng thèm muốn sử dụng và xuất hiện triệu chứng cai khi ngừng sử dụng. Ngừng Methamphetamine thường dẫn đến hội chứng cai cấp tính và hội chứng cai sau cấp tính, có thể kéo dài nhiều tháng nhất là với người sử dụng nhiều hoặc lâu dài. Ở liều cao Methamphetamine là chất độc đối với các tế bào thần kinh. Methamphetamine đã được chứng minh là có ái lực cao hơn và do đó độc tính cao hơn đối với các tế bào thần kinh serotonergic so với Amphetamine.  
Mephedrone và các cathinone tổng hợp
Có khoản trên 30 cathinone tổng hợp có cấu trúc hóa học gần tương tự nhau được sử dụng trong mục đích hoạt thần. Trong đó hai loại phổ biến nhất là Mephedrone và MDPV.  Chúng đều có tinh thể dạng bột và thường được gọi là muối tắm (bath salt) là chất kích thích dạng Amphetamine. Methcathinone đôi khi còn được gọi là "cat" hoặc "kat" hoặc "M-Kat"). 
Chất trong tự nhiên tương tự với cathinones tổng hợp là hoạt chất có đặc tính kích thích có trong lá của cây khat (Catha edulis), được nhiều người châu Phi và bán đảo Ả Rập sử dụng bằng cách nhai lá cũng có tác dụng kích thích.
 
Methcathinone
Cả Mephedrone và Methcathinone sử dụng bất hợp pháp cho mục đích giải trí do tác dụng kích thích và hưng phấn mạnh mẽ. 
Đường dùng chủ yếu là hít (vào mũi) nhưng có thể dùng đường uống, tiêm tĩnh mạch hay hút. Sử dụng trong giải trí, mephedrone có thể gây hưng phấn, kích thích, tăng cường cảm thụ âm nhạc, cải thiện tâm trạng, giảm sự thù địch, cải thiện chức năng tinh thần, kích thích tình dục nhẹ. 

Mephedrone tinh thể có dạng bột trắng hoặc trắng ngà và được bán trên thị trường với dạng bột, hoặc dạng viên nang, viên nén chế tạo từ dạng bột. Mephedrone có thể dùng ở dạng nuốt, hít (vào mũi) hoặc pha với nước giải khát. Nó cũng có thể dùng với dạng tiêm, chà vào lợi, hút (khói) hoặc sử dụng qua đường hậu môn trực tràng. 
Thời gian để bắt đầu cảm nhận ngắn nhất khi tiêm hoặc hít đường mũi (khoảng vài phút) so với đường uống (khoảng 15 đến 45 phút). Thời gian kéo dài của mephedrone ngắn nhất khi tiêm chích (30 phút) và dài nhất khi uống hoặc khi hít mũi (từ 2 đến 3 giờ).
MDMA
MDMA là tên viết tắt của 3,4-Methyl enedioxy Methamphetamine, thường được gọi là thuốc lắc (E, X, XTC). 
Hiện tại, MDMA sử dụng chủ yếu cho mục đích giải trí. Các hiệu ứng mong muốn bao gồm tăng cảm nhận giác quan, tăng năng lượng, sự đồng cảm và cảm giác dễ chịu. Khi dùng đường uống, các hiệu ứng bắt đầu sau 30 đến 45 phút và kéo dài 3 đến 6 giờ. Đường dùng chủ yếu của MDMA là đường uống mặc dù đã có báo cáo về một số cá nhân tiêm chích MDMA.
 
MDMA/Thuốc lắc

Các tác dụng bất lợi bao gồm lệ thuộc và các vấn đề về trí nhớ, hoang tưởng, khó ngủ, nghiến răng, mờ mắt, đổ mồ hôi và nhịp tim nhanh. Tử vong do sử dụng MDMA cũng đã được báo cáo do tăng nhiệt độ cơ thể và mất nước. Sau khi sử dụng mọi người thường cảm thấy chán nản và mệt mỏi. Dùng MDMA lâu dài sẽ dẫn đến rối loạn giấc ngủ, chán ăn, khó tập trung, trầm cảm, bệnh tim.  
Cocaine  
Cocain là alkaloid được chiết xuất từ cây coca (Erythroxylum coca) được trồng phổ biến ở một số quốc gia Nam Mỹ như Colombia, Peru, Bolivia.  Sử dụng cocain hoặc cây coca có thể ở các dạng khác nhau. Ở Việt Nam, cocain ít phổ biến và chỉ có ở dạng cocain hydrocloride hay cacain base.
Cocaine là loại ma túy bất hợp pháp được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu, sau cần sa và Methamphetamine với khoảng từ 14 đến 21 triệu người sử dụng thuốc trong năm qua. Năm 2013, việc sử dụng Cocaine trực tiếp dẫn đến 4.300 ca tử vong. Công ước hợp nhất quốc tế về Ma túy đã khuyến cáo các Quốc gia xem việc sử dụng Cocaine bất hợp pháp để giải trí là tội hình sự.
 
Cocaine
Cocaine là chất gây nghiện do đó Cocaine có thể gây lệ thuộc sau khi sử dụng chỉ trong một thời gian ngắn. Các tác hại khác bao gồm tăng nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tổn thương phổi và có thể đột tử do nguyên nhân tim mạch. Cocaine buôn bán bất hợp pháp thường được trộn một số tạp chất. Do có độ dung nạp cao nên dễ bị lệ thuộc, do đó người dùng nhiều lần dễ bị giảm khoái cảm và cảm giác mệt mỏi.
Cocaine có thể dùng bằng cách hít vào mũi (để bột Cocaine thấm qua niêm mạc mũi), hút (để khói Cocaine đi vào cơ thể qua phổi) hoặc tiêm vào tĩnh mạch. Tác dụng của Cocaine bắt đầu trong vòng vài giây (khi hút) đến vài phút sử dụng (khi hít) và kéo dài từ 5 đến 90 phút.  
Cocaine gây cảm giác xa rời thực tế, cảm giác hạnh phúc mãnh liệt hoặc kích động và các triệu chứng như tăng nhịp tim. 
Dùng cocaine dẫn đến hưng phấn, kích động, nhịp tim nhanh, thở nhanh, đổ mồ hôi, đổ mồ hôi và giãn đồng tử, buồn nôn, nôn, đau đầu, mê sảng và ảo giác. Các biến chứng liên quan đến ngộ độc cocaine bao gồm tăng huyết áp, đau ngực, thiếu máu cục bộ cơ tim và nhồi máu cơ tim cũng như rối loạn nhịp tim, co giật, xuất huyết dưới nhện và trong não, nhồi máu não và nhồi máu ruột. Cũng có thể có sốt cao, tiêu cơ vân, suy thận, yếu cơ do hạ kali máu, nhiễm toan chuyển hóa và ngừng hô hấp. Múa giật múa vờn cũng đã được báo cáo và hội chứng serotonin có thể xảy ra.
Ketamine
Ketamine là loại thuốc được dùng phổ biến nhất trong giải trí. Giới sử dụng thường gọi tắt (hay tiếng lóng) là "Ke". Nó làm biến dạng nhận thức về hình ảnh và âm thanh và tạo ra cảm giác phân li giữa bản thân và môi trường chung quanh. Mặc dù biến dạng nhận thức có thay đổi tâm trí nhưng không phải là ảo giác.  
Ketamine về bản chất là một loại thuốc an thần, nhưng cấu trúc hóa học phức tạp tạo ra tính chất dược lí của thuốc phân li, thuốc gây mê, thuốc kích thích tâm thần hay giảm đau.
 
Ketamine
Ketamine có thời gian bán hủy trong huyết tương từ 2-4 giờ. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng một phút khi ketamine được tiêm vào tĩnh mạch, 5–15 phút khi tiêm bắp hoặc hít và 4–6 giờ khi uống.
Ketamine thường được sử dụng bằng cách hít qua đường mũi. Là loại ma túy dùng trong vui chơi và giao lưu, ketamine có liên quan đến các nguy cơ cao về sức khỏe tình dục. Khảo sát cho thấy so với nhóm dân số chung, người dùng ketamine có nhiều hoạt động vui chơi xã hội hơn, có nhiều bạn tình hơn, ít sử dụng bao cao su thường xuyên và có tỷ lệ lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục cao hơn. Ketamine có liên quan đến việc gia tăng tỷ lệ quan hệ tình dục không an toàn ở những người đồng tính nam. Một nghiên cứu cho rằng việc sử dụng ketamine (cũng như sử dụng GHB) có liên quan đến quan hệ tình dục qua đường hậu môn không được bảo vệ với bạn tình thường xuyên, trong khi methamphetamine có liên quan đến việc quan hệ qua đường hậu môn không được bảo vệ với bạn tình bất chợt.
So với các loại ma túy khác, bản thân ketamine có mức độ an toàn rộng, nhưng do ketamine thường được dùng chung với các chất khác, nên làm tăng nguy cơ độc tính của ketamine và chất ma túy dùng chung. Nó cũng làm tăng nguy cơ tai nạn và việc sử dụng lâu dài có thể dẫn đến các vấn đề về tiết niệu…
Gamma-hydroxybutyrate (GHB) và gamma-butyrolactone (GBL)
GHB (gamma-hydroxybutyrate) là một chất lỏng vừa có tính chất ức chế hệ thần kinh trung ương vừa có đặc tính giống như ma túy kích thích và cũng tạo cảm giác sảng khoái. Tiền chất của GHB là GBL (gammabutyrolactone). GBL khi vào cơ thể được biến đổi thành GHB. GHB-GBL được sử dụng cho mục đích giải trí thường được bán dưới chất lỏng. Nó có vị mặn, khó chịu nên ở Việt Nam nó còn được gọi với tên lóng là “nước biển” và được dùng bằng cách pha loãng trong đồ uống.
 
Nước biển (GHB)
GHB/GBL có tác động khác nhau trên các cá nhân khác nhau và liều gây hưng phấn cho một người có thể là liều an thần cho người khác. GHB/GBL có xu hướng tạo ra hiệu ứng hưng phấn và dễ chịu mà không gây nôn nao hoặc nhức đầu như khi uống rượu.
Các tác dụng của GHB/GBL bao gồm hưng phấn, thư giãn, tăng tính hòa đồng, tăng cường sự tự tin, giải tỏa ức chế xã hội và tăng ham muốn tình dục, tạo kích thích tình dục và gia tăng cơ hội tình dục. Một số người sử dụng GHB/GBL để giúp qua cơn mệt khi dừng ma túy kích thích hoặc giúp thay đổi ảnh hưởng của ma túy. 
Sử dụng GHB/GBL với bất cứ liều nào cũng có thể gây độc tính cấp, ngay cả người đã từng dùng nhiều lần. Quá liều thường xảy ra khi sử dụng nồng độ lớn trong thời gian ngắn hoặc khi GHB/GBL được sử dụng kết hợp với các chất ức chế thần kinh trung ương khác, chẳng hạn như rượu hoặc benzodiazepine. 
Ảnh hưởng của GHB/GBL lên sức khỏe có thể ở mức độ nhẹ hoặc trung bình bao gồm buồn nôn, tiết nước bọt, nôn mửa, tiêu chảy, buồn ngủ, nhức đầu, chóng mặt, lú lẫn, mất trí nhớ, tiểu không kiểm soát, run, giật cơ, giảm trương lực cơ, kích động, hưng phấn và hạ thân nhiệt. Nếu nặng có thể hôn mê, co giật, nhịp tim chậm, hạ huyết áp (hiếm khi tăng huyết áp sau khi sử dụng đường tĩnh mạch), ức chế hô hấp dẫn đến ngừng hô hấp.